PDA

View Full Version : Chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam và phát triển nó như thế nào?



dxdaoxuan
14-01-10, 11:21 AM
Đối với các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển để đảm bảo tăng trưởng kt và phát triển kinh tế cần có hàng loạt các nguồn lực tổng hợp. Song các nguồn lực cơ bản nhất bao gồm: Vốn đầu tư; tài nguyên và môi trường, lao động và khoa học kỹ thuật công nghệ. Tùy thuộc vào mỗi q.gia mà yếu tố nào trở thành quan trọng nhất, nhưng quốc gia nào cũng đặt lđ ở một vị trí đặc biệt. Nguồn lđ bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lđ, đủ các đ. kiện về thể chất và tinh thần đang t. gia làm việc hoặc tích cực tìm kiếm việc làm.
Nước ta đang trong quá trình tiến hành đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Sự nghiệp này chỉ có thể thành công khi chúng ta có được một nguồn nhân lực có chất luợng. Điều này được thể hiện ở mối quan hệ giữa lao động và phát triển kinh tế:
Lao động là tiềm năng đặc biệt của mỗi quốc gia. Nó là chủ thể sản xuất và là lực lượng sản xuất hàng đầu của XH. Theo lý thuyết kinh tế từ cổ điển cho đến hiện đại đều cho rằng: Một trong các nguồn lực để các quốc gia phát triển là lao động. Tuy nhiên khác với các lý thuyết kt trước đây, lý thuyết kinh tế của Mác và lý thuyết kinh tế hiện đại thì nhấn mạnh đến nguồn lực lao động đối với sự phát triển kt-xh.
Lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, tái tạo các nguồn lực khác. Không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và lòng nhiệt tình… thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên. Thậm chí, thiếu một nguồn lực lđ chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại nguồn lực #.
Lao động là nhân tố tham gia tạo ra cung- cầu và tạo vốn cho quá trình CNH. Điều này thể hiện lao động là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, hơn nữa bản thân nó trực tiếp tạo ra sản phẩm. Mặt khác, lao động là một bộ phận của dân cư, nó cũng tiêu dùng chính những sản phẩm do xã hội tạo ra. Vì vậy, lao động tham gia tạo cầu của nền kinh tế. Từ đó, nó góp phần tạo vốn cho quá trình CNH, thúc đẩy nền kt tăng trưởng và phát triển.
Giữa nguồn lực lao động và phát triển kinh tế có sự tác động tương hỗ lãn nhau. Lao động có vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế, cần thấy rõ ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế đối với nguồn lao động, lượng của cải vật chất do nền kinh tế tạo ra là cơ sở để phát triển nguồn lực lao động. Một quốc gia có năng suất lao động cao, của cải nhiều, ngân sách dồi dào sẽ có những điều kiện về vật chất, tài chính để

nâng cao mức dinh dưỡng, phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế … nhằm nâng cao chất lựong nguồn lao động. Mặt khác, việc phát triển kinh tế sẽ làm xuất hiện những ngành nghề mới, những công nghệ mới, cách quản lý mới. Điều đó đòi hỏi nguồn lực lao động phải không ngừng tự hoàn thiện, phát triển để làm chủ quá trình phát triển KT-XH.
*** Nguồn lao động nước ta – bộ phận không thể tách rời của dân cư và dân tộc Việt Nam là chủ thể của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Nguồn lao động ở nước ta tiếp thu được những tinh hoa của dân tộc như: có lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, yêu lao động, chịu đựng gian khổ, đoàn kết. Việt Nam cũng là một quốc gia có trình độ dân trí cao hơn nhiều nước cùng trình độ phát triển kinh tế... Những ưu điểm này của nguồn lao động nước ta là những điều kiện quan trọng để thúc đẩy nền kt-xh phát triển.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân về lịch sử kt-xh, nguồn lđ nước ta còn nhiều hạn chế. Đó là:
Nguồn lao động có chất lượng thấp thể hiện rất đa dạng: Trước hết là sự thấp kém về mặt sức khoẻ, thể chất. Số lao động được đào tạo ít, nhiều ngành nghề chuyên môn được đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế cả về cơ cấu ngành nghề và chất lượng chuyên môn. Nguồn lực lao động nước ta không chỉ yếu kém về kỹ thuật, công nghệ, mà còn yếu kém cả về trình độ tổ chức, quản lý các hđsxkd. Theo thống kê, năm 2005 mới chỉ có 24% người lao động được đào tạo về chuyên môn, trong khi tỷ lệ này ở các nước trong khu vực là 45%-50%. Một bộ phận quan trọng lao động chưa có hoặc có việc làm chưa thường xuyên. Tình trạng này là nguyên nhân quan trọng của nhiều tiêu cực về kinh tế xã hội. Hầu hết lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp lại phân bố không đồng đều giữa các vùng. Ở nước ta, cho đến nay, lao động nông nghiệp vẫn chiếm trên 60% lực lượng lao động cả nước. Thực tiễn đó đang đòi hỏi cùng với việc tập trung các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động, cần thiết phải xúc tiến khẩn trương việc phân công lại lao động giữa các ngành và vùng kt cả nước. Thu nhập và đời sống của người lao động còn thấp. Mặc dù sau những năm đổi mới, thu nhập của người lao động nước ta đã được cải thiện nhiều, nhưng so với giá cả thì thu nhập và đời sống của người lao động vẫn rất thấp. Việc này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và trình độ của người lao động, nó còn là nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực trong xh. Nguồn lao động tăng nhanh, đây không phải là lợi thế mà nó lại gây ra sức ép đối với chính quyền. Cơ cấu đào tạo lao động và sử

dụng lao động ở nước ta còn nhiều bất hợp lý, thầy nhiều hơn thợ; nhiều ngành nghề cần thì lại không được đào tạo, những ngành nghề không cần lại đào tạo tràn lan. Mặt khác, vấn đề làm việc trái với ngành nghề đã được đt đang là một vấn đề bức bách của xh hiện nay.
*** Để sử dụng nguồn lực lao động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Chúng ta phải quán triệt bốn quan điểm lớn sau: Phải thực sự coi nguồn lực con người là nguồn vốn quan trọng và cơ bản nhất để tiến hành CNH,HĐH ở nước ta. Phải lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn và thước đo để đưa ra các chính sách về sử dụng nguồn lao động. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng việc làm và tạo việc làm đầy đủ cho người lao động. Quá trình sử dụng lđ phải gắn với việc nâng cao chất lượng nguồn lao động. Muốn vậy phải thực hiện tốt và đồng bộ các biện pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao trình độ dân trí, phát triển giáo dục và đạo tạo. Để nâng cao trình độ dân trí, theo kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy, đầu tư cho nâng cao trình độ dân trí, cho giáo dục, đào tạo là nền tảng của tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Đây là công việc lâu dài được Đảng ta xác định trong Nghị quyết HNTW 2 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội VIII, IX và X. Để thực hiện được điều này còn đòi hỏi sự đầu tư, sử dụng sức mạnh kt của NN và toàn xã hội.
Thứ hai, khuyến khích phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tạo thêm việc làm. Phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có nghĩa là tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập. Do vậy, cả chất lượng và số lượng nguồn lao động sẽ tăng lên, tuy nhiên, xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế là đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức quản lý kinh tế. Quá trình đó tạo ra nguy cơ giảm tỷ lệ lao động và dẫn đến thất nghiệp. Xử lý vấn đề trên đòi hỏi một quá trình lâu dài, nhiều mặt, trong đó vai trò điều tiết của nn có một vai trò đặc biệt quan trọng. Thứ ba, tạo lập và quản lý thị trường lao động. Cùng với những loại thị trường khác, thị trường lao động ở nước ta đã hình thành và cũng đã xuất hiện rất nhiều hạn chế, tiêu cực. Nó không chỉ tác động đến kinh tế, mà còn mang nội dung chính trị – xã hội sâu sắc. Nếu buông lỏng thị trường này có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, các chính sách, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức Công đoàn, đang là những vấn đề cấp bách lâu dài của việc sử dụng nguồn lđ ở nước ta.
Thứ tư, nâng cao thể chất và thu nhập của người lao động. Trước mắt cần có sự ưu tiên cho nhóm gia định nghèo, các đối tượng chính sách, các ngành nghề hoặc các vùng mà mà người lao động có thu nhập thấp, điều chỉnh thu nhập bất hợp lý giữa các ngành nghề, giữa các vùng.... Cải cách chế độ tiền lương đối với cán bộ công chức nhà nước. Tiền tệ hoá đầy đủ vào tiền lương, điều chỉnh tiền lương bảo đảm mức sống tương ứng với mức độ tăng thu nhập trong xã hội.
Thứ năm, hạ thấp tỷ suất sinh để giảm sức ép tăng lao động quá nhanh. Tiếp tục thực hiện nhất quán kiên quyết và có hiệu quả chương trình dskhhgđ. Trước mắt chương trình này cần phải được tập trung vào khu vực nông thôn, miền núi, ven biển và những gia đình nghèo nhưng đông con ở thành thị.
Thứ sáu, mở rộng xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động không những giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động; tăng thu nhập cho người lao động mà nó còn đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước. Sai lầm trong việc thực hiện những chính sách và biện pháp trong việc phát triển và sử dụng nguồn lao động, sẽ có những hậu quả xấu hơn nhiều so với sai lầm trong việc sử dụng các nguồn lực khác trong phát triển kinh tế đất nước. Vấn đề này, ở nước ta, Đảng và nhà nước đã khẳng định mục tiêu và động lực phát triển kinh tế – xã hội là vì con người và do con người.

thuthuong
16-01-10, 06:58 AM
bài viết này đưa ra các giải pháp chung chung quá.