PHẦN I
GIỚI THIỆU
Ngay nay , với sự tiến bộ nhiều mặt của nhân loại, các quốc gia trên thế giới không ngừng tiến bộ về nhiều mặt . Trong quá trình tiến bộ của các quốc gia , một thuật ngữ mà thường được dùng để mô tả quá trình tiến bộ đó chính là “ Phát triển kinh tế ” . Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế các nước luôn luôn vấp phải những rào cản của chính quá trình đó là những mặt trái của sự phát triển kinh tế , cụ thể : Vấn để ô nhiễm môi trường từng ngày trở thành vấn đề đáng lưu tâm song song với sự đi lên nhanh chóng của nền kinh tế. Thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, mức sống được nâng dần lên cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong khi đó khoảng cách giàu nghèo trong xã hội cũng tăng lên rõ rệt . Chính vì đó nhằm hạn chế những mặt trái của sự phát triển kinh tế đòi hỏi các quốc gia quan tâm hơn đến sự phát triển toàn diện , hay nói khác hơn đó chính là sự phát triển bền vững .Trong hai thập kỷ qua, trên bình diện quốc tế, vấn đề phát triển bền vững ngày càng được đặc biệt quan tâm, trở thành yêu cầu phát triển của toàn cầu. Đã có không ít hội nghị thượng đỉnh thảo luận về chủ đề này và đưa ra nhiều văn kiện, quyết sách quan trọng nhằm giúp mọi người trong xã hội đều có quyền bình đẳng và luôn gắn phát triển kinh tế với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường.
Ở Việt Nam,quan điểm phát triển kinh tế bền vững đã được nhận thức và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng mà được cụ thể hóa thông qua các chiến lược phát triển kinh tế -xã hôi của Chính phủ . Trong nôi dung của chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 cũng khẳng định quan điểm phát triển kinh tế “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Tiếp tục thực hiện phát triển kinh tế bền vững trong giai đoạn hiện nay , trong chiến lược phát triển kinh tế - Xã hôi 2010 - 2020 của Chính phủ cũng đã chỉ rõ “ Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển… giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng” và xác định “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” . Do xuất phát điểm , nền kinh tế nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ và lạc hậu , vùa mới thoát ra khỏi cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa , do vậy vấn đề đẩy nhanh phát triển kinh tế là vấn đề trong tâm then chốt của quốc gia . Trong thời gian qua đất nước ta cũng đã phát triển nhanh , mạnh về nhiều mặt kinh tế , đời sống xã hội ..vv . Tuy nhiên , nền kinh tế vẩn còn chị sự tác động lớn của mặt trái sự phát triển kinh tế mà cụ thể là kinh tế vĩ mô mất ổn định , nợ công tăng dần , môi trường sinh thái bị hủy hoại nặng , tình trạng phân hóa giàu nghèo gia tăng ..vv Điều đó đòi hỏi là phát triển kinh tế theo hướng bền vững là một vấn đề cần được xem xét về mặt nhận thức cũng như về hoạt động thực tiễn phát triển kinh tế của đất nước . Vì lẽ đó mà nội dung “ Phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng bền vững thực trạng và giải pháp.” là một vấn đề mà tôi quan tâm nhất , và chọn làm đề tài cho bài tiểu luận môn học kinh tế phát triển .

PHẦI II
NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN KINH TẾ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG .
I. Một số khái niệm .
1. Phát triển : Phát triển là một quá trình vận động theo thời gian có xu hướng đi lên và thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn . Như vậy , theo khái niệm này thì ta thấy rằng phát triển là một quá trình lâu dài , luôn thay đổi và sự thay đổi này cao hơn và hoàn thiện hơn trước .
2. Phát triển kinh tế : Là một quá trình thay đổi theo theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm các vấn đề về kinh tế , xã hội , môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định .
Nội dung của phát triển kinh tế nó bao hàm sự biến đổi nhiều mặt như thay đổi cơ cấu kinh tế , khía cạnh xã hội , môi trường chứ không chỉ dừng lại duy nhất ở mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà thôi ,do vậy phát triển kinh tế , biểu hiện nội dung rộng lớn hơn tăng trưởng kinh tế . Là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện , sự hoàn thiện được giới hạn bởi những mục tiêu cơ bản của sự phát triển , những mục tiêu cơ bản mà quá trình phát triển kinh tế hướng đền đó là : Phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn . Đây chính là điều kiện để thực hiện được các mục tiêu khác của quá trình phát triển . Thật vậy nền kinh tế có tăng trưởng thì ngân sách nhà nước ngày càng được mở rộng , thu nhập của dân cư ngày càng được nâng lên và như vậy người dân có điều kiện nâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần thông qua việc Nhà nước tăng cường đầu tư cho các cơ sở hạ tầng , phúc lợi xã hội như : giáo dục , chăm sóc sức khỏe cộng đồng , chương trình y tế , văn hóa , xóa đói giãm nghèo ..vv . Sự hoàn thiên hướng tới đó là phải làm thay đổi được cơ cấu kinh tế , bởi vì bất kỳ một sự phát triển kinh tế của một quốc gia nào cũng phải phát triển từ thấp đến cao , và là một sự chuyển dịch từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại và các ngành dịch vụ được phát triển . Sự thay đổi cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn , trong đó có những thay đổi về cấu trúc tỷ lệ trong tổng sản lượng quốc gia của các ngành kinh tế , nguồn lao động , thành phần kinh tế , vùng kinh tế … vv . Những thay đổi cơ cấu này phải theo xu hướng được đánh giá là ngày càng tiến bộ . Phát triển kinh tế phải cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư đó chính là múc hưởng lợi từ kết quả của sự phát triển kinh tế . Mức hưởng thụ của đại bộ phận dân cư là hưởng thụ về vật chất như điện , nước , thông tin liên lạc , dinh dưỡng ..vv và về tinh thần như đáp ứng được nhu cầu giải trí , văn hóa - nghệ thuật ….vv. Bên cạnh đó vấn đề quyền con người , thực hiện dân chủ , mức độ công bằng xã hội , an ninh an toàn cũng phải được đãm bảo .
Trong quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên .Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong sự phát triển kinh tế ngày nay đang được các chính phủ của các quốc gia trên thế giới quan tâm , và không ít các hội nghị khu vực , thế giới đã phát đi thông điệp kêu gọi mọi người thực hiện bảo vệ môi trường sinh thái , nếu xét về một khía cạnh sự hưởng thụ của con người thì đây cũng là việc cải thiện mức sống . II. Mặt trái của phát triển kinh tế . Phát triển kinh tế là một quá trình , các yếu tố kinh tế luôn biến động không ngừng theo những chiều hướng tích cực cũng như tiêu cực , do đó vấn đề mà các quốc gia đặt ra là làm sao mà làm cho nền kinh tế được phát triển trên cơ sở thực hiện tốt các mục tiêu cơ bản và đồng thời hạn chế tối đa những mặt trái do phát triển kinh tế mang lại . Kinh nghiệm từ nhiều nước trên thế giới nhận định rằng quá trình phát triển kinh tế có nhiều vấn đề cần phải lưu tâm giải quyết nếu không thì sẽ trả giá rất đắt trong phát triển , đó chính là những mặt trái của phát triển kinh tế mà cụ thể như sau : Vấn đề về môi trường sinh thái .Trong quá trình phát triển kinh tế , nếu tập trung đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế trên cơ sở đánh đổi bằng việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên như khai thác rừng bừa bãi , lạm sát thủy sản , lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp , các chất thải công nghiệp ..vv sẽ làm hủy hoại đến môi trường sinh thái và môi trường sống của con người . Gánh nặng về nợ của quốc gia . Do đẩy nhanh việc huy động vốn trong quá trình phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế , chiến lược huy động vốn quá nhấn mạnh việc huy động vốn từ bên ngoài chưa chú ý đến nguồn lực từ trong nước sẽ dẫn đến hệ quả là kinh tế có tăng trưởng nhưng lại phụ thuộc nhiều vào nguồn lực bên ngoài , nợ nần triền miên tạo nên gánh nặng cho quốc gia .
Sự phân hóa giàu nghèo . Mặc dù nền kinh tế có tăng trưởng và tăng trưởng nhanh , nhưng sự hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng này được thực hiện bởi một bộ phận nhỏ dân cư trong khi đó phần lớn dân cư vẫn trong tình trạng thu nhập thấp và nghèo đói , đà này làm cho sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn . Sự cách biệt về phát triển kinh tế giữa các vùng .Việc đẩy nhanh tăng trưởng và phát triển kinh tế được thực hiện tập trung quá mức ở các vùng đô thị và đô thị lớn , trong khi ở vùng nông thôn và vùng núi lại bỏ qua . Mức sống , mức hưởng thụ vật chất tinh thần , chăm sóc sức khỏe , cơ hôi việc làm quá chênh lệch giữa vùng nông thôn và thành thị , giữa các cộng đồng dân tộc với nhau , đây cũng là mầm móng dẫn đến việc đối xử không công bằng , gây ra những xung đột làm xáo trộn nền kinh tế , khủng hoảng về chính trị . Vấn đề chuẩn mực đạo đức xã hội . Đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế cũng có thể làm mai một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc , và thay vào đó là lối sống thực dụng lệ thuộc và tôn trọng vào sức mạnh của đồng tiền , chạy theo lợi nhuận ..vv từ đó thiếu sự quan tâm đến lợi ích của cộng đồng , chuẩn mực đạo đức xã hội thay đổi thậm chí sự đổi thay về đạo đức len lõi vào trong mỗi gia đình dẫn đến văn hóa tốt đẹp của dân tộc bị suy giãm , tỷ lệ ly hôn gia tăng , nảy sinh nhiều tội phạm , nhiều tội ác . III. Phát triển kinh tế bền vững . Từ những mặt trái xuất hiện trong sự phát triển kinh tế đòi hỏi phát triển kinh tế phải cần phải quan tâm tới sự phát triển toàn diện , mà cụ thể là phát triển kinh tế cần hướng tới một sự phát triển bền vững .Trái ngược với hiểu biết phổ biến phát triển bền vững không chỉ đơn thuần được hiểu là sự phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế phát triển ở đây là sự nỗ lực liên tục nhằm đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực. Phát triển bền vững không được coi là một mục tiêu được đặt ra để đạt được mà đó là một quá trình duy trì sự cân bằng cơ học của đòi hỏi của con người với tính công bằng, sự phồn vinh, chất lượng cuộc sống và tính bền vững của môi trường tự nhiên. Đầu thập niên 80, trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO thuật ngữ phát triển bền vững được sử dụng . Tuy nhiên. khái niệm phát triển bền vững xuất hiện chính thức vào năm 1987 trong báo cáo của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới- hay còn gọi là báo cáo Brundtland ( World committee of environment and development , WCED ) và chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ đó đến nay. Kể từ sau báo cáo Brundtland, khái niệm bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gở bế tắc trong các vấn đề trong phát triển. Đây cũng được xem là giai đoạn mở đường cho "Hội thảo về phát triển và môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá được tổ chức tại Rio de Janeiro (1992), và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (2002).
1. Khái niệm phát triển bền vững. Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại , nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Khái niệm này chủ yếu là nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển . Hiện nay khái niệm này còn được đề cập hoàn chỉnh hơn, trong đó còn lưu tâm đến yếu tố tài nguyên , môi trường , yếu tố xã hội . Tại hội nghị thế giới về phát triển bền vững tổ chức tại Johannesbug ( Cộng hòa Nam Phi ) năm 2002 đã thống nhất khái niệm phát triển bền vững như là một quá trình phát triển có sự kết hợp hài hòa giữa các mặt phát triển : Tăng trưởng kinh tế , công bằng xã hội và bảo vệ môi trường . 2. Mục tiêu phát triển bền vững . Mục tiêu Phát triển bền vững đó là phải hướng tới và tạo lập được sự phát triển toàn diện trên 3 khía cạnh cơ bản : Môi trường bền vững , xã hội bền vững và kinh tế bền vững . Yêu cầu đặt ra đối với từng khía cạnh đó (Được minh họa qua biểu đồ sau ) :
3 khía cạnh của phát triển bền vững
[IMG]file:///C:/Users/LENOVO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg[/IMG] Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững. Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh , sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản- sự bình đẳng . Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người. CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Quan niệm về phát triển bền vững đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ,nội dung của nó đã được thể hiện trong các chủ trương nghị quyết ,tại các Đại hội Đảng toàn quốc, Đặc biệt quan niệm về sự phát triển bền vững đã được thể hiện rõ nét trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001-2010 , và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 . Để đánh giá được sự phát triển kinh tế ớ Việt Nam theo hướng bền vững như thế nào? Mức độ ra sao ? Chúng ta cần nghiên cứu về thực trạng phát triển của đất nước ta trong thời gian qua trên các khía cạnh ( Nhóm chỉ tiêu ) của phát triển bền vững để từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp trong từng giai đoạn kinh tế .
I . Về mặt kinh tế . Để phản ánh về thực trạng sự phát triển kinh tế , chúng ta nên xem xét một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam trong thời gian gần đây như sau : 1. Sự tăng trưởng kinh tế : Sự tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua các chỉ tiêu như : Quy mô sản lượng quốc gia ( GDP hoặc GNP ) ; Thu nhập bình quân trên đầu người ( PCI ) và Tốc độ tăng trưởng về sản lượng , thu nhập bình quân trên đầu người .Qua nghiên cứu thực tế sự phát triển kinh tế Việt nam giai đoạn 2001 - 2010 , tăng trưởng kinh tế của nước ta thể hiện qua số liệu sau : Biểu đồ 1: Quy mô nền kinh tế 2001-2010 [IMG]file:///C:/Users/LENOVO/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image004.gif[/IMG] Nguồn : Niên giám thống kê - Tổng cục Thống kê
Ghi chú : GDP- GTT : GDP tính theo giá thực tế GDP- GCD: GDP tính theo giá cố định năm 1994 Bảng 1 : Tổng sản phẩm quốc gia- thu nhập bình quân trên đầu người - % GDP
Năm
Tốc độ tăng trưởng GDP (% )
Giá so sánh 1994
Tổng sản phẩm quốc gia
( GNP- ỷ đồng)
Gía thực tế
Thu nhập quốc gia bình quân / người (nghìn đồng )
2001 6,89 474.855 6.039,8
2002 7,08 527.026 6.626,5
2003 7,34 603.688 7.502,3
2004 7,79 701.906 8.619,1
2005 8,44 822.432 9.981,9
2006 8,23 951.456 11.441,8
2007 8,46 1.108.752 13.165,2
2008 6,31 1.436.955 16.881,8
2009 5,32 1.580.461 18.372,1
2010 6,78 1.898.664 21.841,9
Nguồn : Niên giám thống kê- Tổng cục thống kê . Qua số liệu trên ta thấy rằng , tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2001-2010 duy trì từ 6% đến 9% và theo thống kê thì Việt Nam là một nước có tăng trưởng GDP cao nhất so với khu vực Đông Nam Á , tốc độ tăng trưởng tăng chậm và giảm từ năm 2008 đến 2010 là do ảnh hưởng của cuộc khung hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu , tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cho thấy thiếu sự ổn định mặc dù ưu tiên tăng trưởng kinh tế luôn được coi trọng hàng đầu . Quy mô nền kinh tế đã gia tăng nhanh chóng trong vòng 10 năm , nếu tính theo giá thực tế ta thấy tổng sản lượng quốc nội (GDP ) năm 2010 tăng gấp 4 lần so với năm 2001. Tuy nhiên do nền
kinh tế nước ta là nhỏ đứng thứ 60-70 trên thế giới , nhưng dân số đông hơn 86 triệu dân đứng thứ 13 trên thế giới, do vậy mặc dù thu nhập quốc gia tíng trên đầu người được cải thiện và gia tăng theo thời gian nhưng đến thời điểm cuối năm 2010 thu nhập quốc dân bình quân trên đầu người là 21.841,9 ngàn đồng tương đương trên 1.000USD , vừa mới đủ đưa Việt nam thoát khỏi ngưỡng nước nghèo có thu nhập thấp sang nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình,do đó nhiệm vụ tăng nhanh quy mô là rất khó thực hiện trong khi phải đối đầu với cái gọi là “ Bẫy thu nhập trung bình ” và tăng trưởng không bền vững . Từ phân tích tích trên , nhận thấy rằng nền kinh tế Việt nam phụ thuộc quá lớn vào biến động kinh tế thế giới , các yếu tố sản xuất cơ bản là lao động , vốn , đất đai và khoa học công nghệ của Việt nam thiên lệch và thiếu ổn định . Theo như dự đoán của các chuyên gia kinh tế , và mục tiêu phấn đấu của chính phủ đề ra thì tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2011 là khoảng 6% và lạm phát duy trì khoảng 18 % , như vậy thì thu nhập bình quân trên đầu người tăng không đáng kể trong khi áp lực giá cả tăng cao gây khó khăn cho toàn bộ đời sống xã hội và phát triển kinh tế quốc gia . 2.Sự thay đổi cơ cấu kinh tế :Xuất phát từ mục tiêu của phát triển kinh tế là phải thay đổi được cơ cấu kinh tế . Để đánh giá đúng về việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế chúng ta nghiên cứu một vài số liệu thực tế phát sinh trong thời gian 2001-2010 : Cơ cấu GDP theo các nghành kinh tế :Đây là chỉ tiêu phản ánh tầm quan trọng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân , nó được biểu hiện bằng tỷ trọng giá trị đóng góp của các nghành trong cơ cấu GDP , thực trạng tỷ trọng đóng góp của ngành Nông nghiệp , ngành Công nghiệp và dịch vụ được thể hiện qua biểu đồ sau : Bảng 2 : GDP theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế 2001-2010 ( Tỷ đồng )
Năm GDP ( Tổng số ) GDP trong Nông , lâm nghiệp và thuỷ sản Tỷ trọng (% ) GDP trong Công nghiệp và xây dựng Tỷ trọng (%) GDP trong Dịch vụ Tỷ trọng ( %)
1 2=3+5+7 3 4=3/2 5 6=5/2 7 8= 7/2
2001 481.295 111.858 23,24 183.515 38.13 185.922 38,63
2002 535.762 123.383 23,03 206.197 38.49 206.182 38,48
2003 613.443 138.285 22,54 242.126 39,47 233.032 37,99
2004 715.307 155.992 21,81 287.616 40,21 271.699 37,98
2005 839.211 175.984 20,97 344.224 41,02 319.003 38,01
2006 974.266 198.798 20,40 404.697 41.54 370.771 38,06
2007 1.143.715 232.586 20,34 474.423 41,48 436.706 38,18
2008 1.485.038 329.886 22,21 591.608 39,84 563.544 37,95
2009 1.658.389 346.786 20,91 667.323 40,24 644.280 38,85
2010 1.980.914 407.647 20,58 814.065 41,10 759.202 38.32
Nguồn : Niên giám thống kê - Tổng Cục Thống Kê . Với số liệu trên , trong giai đoạn 2001-2010 tăng trưởng kinh tế gia tăng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực là tỷ trọng đóng góp của nông lâm nghiệp và thuỷ sản giảm dần , các tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ tăng dần . Tuy nhiên nếu quan sát qua từng năm của từng ngành , ngành nông nghiệp có tỷ trọng giảm dần , nhưng trong năm 2008 tỷ trọng tăng so với năm 2007 ứng với mức là 22,21% trong GDP , các ngành công nghiệp giảm so với năm 2007 với mức là 39,84% trong GDP và dịch vụ giảm tương ứng với mức 37,95% là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu , điều này cho thấy các ngành công nghiệp và dich vụ phụ thuộc nhiều vào kinh tế thế giới . Sự chuyển dịch cơcấu kinh tế đã đi theo hướng tích cực , tuy nhiên vẫn còn rất chậm , mà cụ thể là đến thời điểm năm 2010 tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP giảm so với năm 2001ở mức 20,58 % cao hơn so với mục tiêu đã đề ra là ở mức 15-16% , tương tự ở ngành công nghiệp là 41,1% thấp hơn so với mục tiêu đặt ra là 43-44% và ngành dịch vụ là 38,32% cũng thấp hơn mục tiêu đã đặt ra là 40-41% , mặc dù trong giai đoạn này chúng ta thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , đầu tư công gia tăng mạnh . Nếu so sánh với các nước có thu nhập trung bình , Việt nam có tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP cò thấp nhiều ( Các nước thu nhập trung bình là 51% , Thu nhập thấp là 50% ) Cơ cấu lao động: Đây chính là một chỉ tiêu biểu hiện tầm quan trọng của từng ngành kinh tế trong việc sử dụng nguồn lao động xã hội . Thực trạng của cơ cấu lao động của Việt nam giai đoạn 2001-2010 thể hiện như sau :
Bảng 3 : Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Năm Cơ cấu Lao động (%)
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ Tổng số
2002 61,9 18,4 19,7 100
2003 60,3 19,4 20,3 100
2004 58,8 20,2 21 100
2005 55,7 20 24,3 100
2007 53,6 21,2 25,2 100
2008 52,9 21,8 25,3 100
2009 52,1 22,4 25,5 100
2010 49,3 24 26,7 100
Nguồn : Niên giám thống kê - Tổng cục thống kê Ta thấy rằng cơ cấu lao động theo ngành kinh tế ở Việt Nam có xu hướng gắn liền sự phát triển của các ngành kinh tế , xu hướng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm dần , công nghiệp và dịch vụ tăng dần . Tuy nhiên sự dịch chuyển còn chậm là do Việt Nam là một nước nông nghiệp và trình độ trong nhận thức để chuyển đổi nghề của đại bộ phận dân cư còn thấp . Cơ cấu hoạt động ngoại thương . Trong thời đại ngày nay , với sự toàn cầu hoá đang phát triển mạnh và phổ biến nền kinh tế của một quốc gia phải là một nền kinh tế mở , Việt nam cũng không thể ngoài quy trình đó . Khi tham gia vào thương mại quốc tế , các nước thường tham gia vào xuất nhập khẩu hàng hoá , và các nước ngày càng mở rộng tham gia xuất nhập khẩu . Để phản ánh trình độ mở chỉ tiêu được sử dụng : Tỷ trọng giá trị xuất khẩu hay nhập khẩu so với GDP . Bảng 4: Trình độ mở cửa của Việt nam 2001-2010
Năm Xuất khẩu ( tỷ đồng) Nhập khẩu (tỷ đồng) GDP (Tỷ đồng ) % Xuất khẩu/GDP % Nhập khẩu/GDP
2000 243.049 253.927 441.646 55,03 57,5
2003 363.735 415.023 613.443 59,29 67,65
2004 470.216 524.216 715.307 65,74 73,29
2005 582.069 617.157 839.211 69,36 73,54
2006 716.652 765.827 974.266 73,56 78,61
2007 879.461 1.060.763 1.143.715 76,90 92,75
2008 1.157.178 1.383.005 1.485.038 77,92 93,13
2009 1.132.688 1.304.350 1.658.389 68,30 78,65
2010 1.535.816 1.739.363 1.980.914 77,53 87,81
Nguồn : Tổng cục thống kê . Tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP nhìn chung tăng dần theo thời gian , và có giảm trong năm 2009 đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới , và bắt đầu hồi phục lại vào năm 2010 . Như vậy trình độ mở cửa của Việt nam trong thời gian qua có xu hướng chuyển dịch theo hướng trình độ mở ngày càng cao , mặc dù tỷ trọng nhập khẩu so với GDP luôn lớn hơn tỷ trọng xuất khẩu so với GDP theo từng năm , làm cho Tổng sản lượng quốc gia (GNP ) giảm so với GDP . Cơ cấu vùng kinh tế : Cơ cấu vùng kinh tế được xem xét dưới góc độ vùng thành thị và vùng nông thôn , mỗi vùng chứa đựng tỷ trọng dân số khác nhau và được thay đổi theo trình độ phát triển . Bên cạnh đó trong quá trình phát triển kinh tế có một luồng di dân từ nông thôn ra thành thịdo tác động của tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá . Do vậy để phản ánh cơ cấu vùng kinh tế gắn liền với sự hiện hữu của dân số , chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá : Tốc độ tăng trưởng dân số thành thị so với tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên . Xu hướng thay đổi được thể hiện là tốc độ tăng trưởng dân số thành thị nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên . Chúng ta cùng quan sát một vài số liệu liên quan theo bảng sau : Bảng 5 : Tốc độ tăng trưởng dân số thành thị và dân số tự nhiên từ 2001-2010
Năm
Tăng dân số tự nhiên (%)
Tăng dân số thành thị (%)
2001 1,27 3,06
2002 1,17 2,97
2003 1,17 4,29
2004 1,20 4,23
2005 1,17 3,38
2006 1,12 3,20
2007 1,09 3,04
2008 1,07 3,90
2009 1,06 3,69
2010 1,05 2,5
Nguồn : Tổng cục Thống kê Theo báo cáo phát triển thế giới ,2005 thì đối với các nước thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam tốc độ tăng trưởng dân số vùng thành thị cao hơn nhiều so với dân số tự nhiên , trong khi đó các nước có thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng dân số vùng thành thị không khác biệt nhiều so với dân số tự nhiên . Qua số liệu từ bảng 5 , tốc độ tăng dân số vùng thành thị luôn cao hơn dân số tự nhiên , hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế . Nhìn chung , trong giai đoạn 2001-2010 việc phát triển kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%/năm , thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng trên 1.000 USD, vượt qua ngưỡng nước nghèo có thu nhập thấp trở thanh nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được giữ vững, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia được kiểm soát trong giới hạn an toàn . Tuy nhiên việc phát triển còn chậm chưa tương xứng với các mục tiêu đề ra , và chi tiêu phát triển thường bất ổn định đồng thời với quy mô của nền kinh tế nhỏ do vậy vấn đề tăng trưởng cao và ổn định là một vấn đề cần quan tâm của Việt Nam . II. Về mặt xã hội . Khi xem xét việc phát triển kinh tế theo hướng bền vững , vấn đề xã hội được xem xét tới trên phương diện là sự tiến bộ xã hội . Tiến bộ xã hội được có thể được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu khác nhau cũng như những quan niệm khác nhau , nhưng vấn đề cuối cùng của tiến bộ xã hội chính là sự phát triển con người , tiến bô xã hội được xem xét trên các mặt : Tuổi thọ , trình độ giáo dục , thu nhập dân cư của quốc gia . 1. Tuổi thọ:Tuổi thọ của dân cư phản ánh kết quả cuối cùng của tiến bộ xã hội như môi trường sống , chăm sóc sức khỏe , thu nhập điều kiện lao động tác động đến đời sống dân cư . Gắn liền với quá trình phát triển kinh tế tuổi thọ trung bình của cư dân và chỉ số tuổi thọ luôn được cải thiện theo thời gian . Hiện nay theo thống kê , từ kết quả Bộ Y tế Việt Nam đưa ra ngày 2 tháng 1 năm 2006, tuổi thọ trung bình của người Việt là 71,3 tuổi; so với 65 tuổi vào năm 1998. Như vậy chỉ số tuổi thọ của Việt Nam : Chỉ số tuổi thọ . LI = (Life Index ) Trong đó : Lf : Tuổi thọ trung bình của quốc gia được đánh giá . Lm : Tuổi thọ của quốc gia được xếp hạng thấp nhất trên thế giới , Lm = 42 Nước Cộng hòa Trung Phi . LM : Tuổi thọ trung bình của quốc gia được xếp hạng cao nhất trên thế giới , LM = 82 , Nước Nhật . Vậy LI = = =0,575 LI = = = 0,733 Qua thời gian tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã được cải thiện , chỉ số tuổi thọ cũng được cải thiện gia tăng từ 0,575 lên 0,733 . Do tuổi thọ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như về địa lý như khí hậu , thiên tai ; yếu tố xã hội như giáo dục , tội phạm , kinh tế , y tế , chiến tranh …vv . Nên dựa vào chỉ số tuổi thọ của Việt nam gia tăng , ta có thể kết luận các yếu tố về địa lý , xã hội của Việt Nam trong thời gian qua đã được cải thiện đáng kể mà cụ thể : Trẻ em được quan tâm bảo vệ, chăm sóc; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 33,8% xuống còn dưới 18% ; bảo hiểm y tế được mở rộng từ 13,4% dân số năm 2000 lên khoảng 62% năm 2010; Bình đẳng giới có nhiều tiến bộ, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội và giữ các trọng trách trong hệ thống chính trị ngày càng cao. Năm 2008, nước ta đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015. 2. Gíao dục :Chúng ta cần nghiên cứu vấn đề này để đánh giá trình độ giáo dục và dân trí của Việt nam trong thời gian qua như thế nào khi thực hiện phát triển kinh tế đất nước .Tính đến tháng 9/2011, cả nước có 57/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Theo báo cáo sơ bộ, tại thời điểm đầu năm học 2011-2012, cả nước có trên 3,7 triệu trẻ em mầm non và hơn 15 triệu học sinh phổ thông đến trường Trong những năm qua, công tác xây dựng trường, lớp và đào tạo giáo viên theo các tiêu chí trường chuẩn tiếp tục được triển khai mạnh tại các địa phương. Trong năm học 2010-2011, cả nước có 409 trường mầm non và 191 trường tiểu học được công nhận đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia cả nước tính đến năm 2011 là 10999 trường, bao gồm: 2454 trường mầm non, chiếm 18,9% số trường mầm non; 5912 trường tiểu học, chiếm 38,9% số trường tiểu học; 2341 trường trung học cơ sở, chiếm 23,1% số trường trung học cơ sở và 292 trường trung học phổ thông, chiếm 12,8% số trường trung học phổ thông. Năm 2010-2011, cả nước có 414 trường đại học, cao đẳng, tăng 2,7% so với năm học 2009-2010. Số giáo viên đại học, cao đẳng là 71,5 nghìn người, tăng 2,7% so với năm học trước, trong đó giáo viên công lập là 61,2 nghìn người. Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng ước tính trên 2 triệu sinh viên, tăng 4,4%, trong đó hơn 85% là sinh viên các trường công lập và số sinh viên nữ chiếm gần 50% tổng số học sinh. Số sinh viên tốt nghiệp năm học 2010-2011 ước tính khoảng 290 nghìn sinh viên, tăng 17,5% so với năm học trước, trong đó sinh viên hệ công lập chiếm 87%. Với những thành tựu đạt được như đã nêu trên cho thấy trình độ giáo dục và dân trí của Việt Nam ngày càng được nâng cao , đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới . 3.Thu nhập :Cùng với sự phát triển kinh tế được gia tăng , thu nhập bình quân trên đầu người vào thời điểm năm 2010 Việt Nam đã đạt ở mức trên 1000USD, đưa đấn nước ta vượt qua ngưỡng nước nghèo có thu nhập thấp trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp .Công cuộc xoá đói giảm nghèo được phát triển đạt nhiều thành tựu nổi bật được thế giới đánh giá cao , Chênh lệch thu nhập giữa vùng thành thị và nông thôn ngày càng thu hẹp , giảm từ chênh lệch 2,3 lần xuống còn 2 lần vào năm 2008. Đời sống vật chất , tinh thần của dân cư được cải thiện tốt hơn , thu nhập thực tế bình quân trên đầu người 10 năm qua tăng gấp khoảng 3,6 lần ( Năm 2001: 6039,8 nghìn đồng ; năm 2010 : 21.841,9 nghìn đồng ) . 4. Chỉ số phát triển con người (HDI, Human Development Index ) :Đây là chỉ tiêu phản ánh mức hưởng thụ của dân cư đối với ảnh hưởng tăng trưởng và phát triển kinh tế trên 3 mặt : Thu nhập , sức khoẻ và giáo dục . Trong giai đoạn từ 2001 đến 2010 , chỉ số phát triển con người của Việt Nam được tăng mạnh phù hợp với xu thế phát triển là ngày càng nâng cao gắn với quá trình phát triển kinh tế theo thời gian . Thực trạng trong vòng 10 năm ,Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng được nâng lên, năm 2008 là 0,733, chiếu theo mức trình độ HDI do Liên Hợp Quốc phân loại thì Việt Nam có chỉ số HDI thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới. Mức hưởng thụ văn hoá, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân được nâng lên rõ rệt. Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng . III . Vấn đề môi trường . Gắn liền với phát triển kinh tế bền vững , môi trường sống , môi trường tự nhiên , cân bằng sinh thái cần được bảo vệ và được cải thiện cùng với tăng trưởng kinh tế . Để đánh giá sự tiến bộ về môi trường của một quốc gia người ta sử dụng các chỉ tiêu như : Mức độ ô nhiễm môi trường ; Lượng sử dụng tài nguyên . Lượng hoá các chỉ tiêu này để so sánh theo nguyên tắc sau : Mức độ ô nhiễm môi trường £ Tiêu chuẩn quy định . Lượng sử dụng tài nguyên £ Lượng khôi phục , tái tạo . Thực trạng trong thời gian qua , công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có nhiều mặt được cải thiện , Chúng ta cũng đã thực hiện các chương trình tái tạo lại môi trường sinh thái như chương trình trồng mới năm triệu ha rừng đã đạt nhiều kết quả tốt . Tuy nhiên trong thời gian qua vẫn còn nhiều mặt hạn chế trong việc bảo vệ môi trường do quá trình tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá mà thiếu triển khai đồng bộ công tác quản lý về mặt môi trường : Nạn khai thác tài nguyên bừa bãi , sử dụng lãng phí ; sự ô nhiễm môi trường nặng nề do chất thải chế biến công nghiệp tại các trung tâm đô thị lớn . Theo một cuộc nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, thực hiện theo Hệ thống Dự báo Ô nhiễm gọi tắt là ISSP trên 10 tỉnh thành, cho biết xếp theo thứ hạng về mức độ ô nhiễm về đất, nước và không khí, TP.HCM đứng đầu, kế đó là Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Thái Nguyên, Phú Thọ, Đà Nẵng, Bà Rịa-Vũng Tàu, và Cần Thơ. Ngòai sự kiện chiếm đầu bảng, Sài Gòn và Hà Nội, hai thành phố kinh tế trọng điểm của cả nước, cũng chiếm đến nửa tổng lượng khí thải gây ô nhiễm . Nói tóm lại , thực trạng phát triển kinh tế theo hướng bền vững trong thời gian qua ở Việt Nam đã đạt những thành tự to lớn , đã đi đúng hướng của phát triển kinh tế bền vững . Hiệu quả của sự phát triển đã được thể hiện rõ trên 3 mặt : kinh tế , xã hội và môi trường . Kinh tế được tăng trưởng mạnh , có bước chuyển dịch cơ cấu phù hợp với xu thế . Các vấn đề Xã hội cũng được cải thiện theo hướng tích cực trên các khía cạnh giáo dục , chăm sóc sức khoẻ , công bằng xã hội ..vv dân chủ trong xã hội được mở rộng , có được đồng thuận cao trong các vấn đề xã hội . Công tác bảo vệ , cải thiện môi trường được kiểm soát chặt chẻ , có định hướng đề ứng phó với những tác hại của môi trường như biến đổi khí hậu , hiện tượng mức nước biển dâng cao . ..vv. Tuy nhiên vẫn còn nhiều yếu kém ,bất cập đó là những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp. Tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn. Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và tiết kiệm. Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao. Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô nhiễm nặng.Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một
số mặt vẫn còn bức xúc; tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng; ùn tắc và tai nạn giao thông còn nghiêm trọng; tham nhũng chưa bị đẩy lùi; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề còn yếu kém và chậm được cải thiện; các bệnh viện bị quá tải, chất lượng dịch vụ y tế còn thấp . Những yếu kém bất cập trên có phần do nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, nổi lên là: Quan điểm phát triển bền vững chưa được nhận thức sâu sắc và thể hiện một cách cụ thể, nhất quán trong hệ thống chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết. Trong quản lý, điều hành còn thiên về tốc độ tăng trưởng mà chưa coi trọng đúng mức đến chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của sự phát triển; chưa tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường chưa có sự kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý. Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu quả. Quyền làm chủ của nhân dân, nhất là dân chủ trực tiếp chưa được phát huy đầy đủ. CHƯƠNG III :NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG . Xuất phát từ thực trạng phát triển kinh tế theo hướng bền vững của Việt Nam như đã nêu trên đây , để thực hiện tốt phát triển kinh tế theo hướng bền vững chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau : I . Nhóm giải pháp về kinh tế . 1. Đảm bảo được sự ổn định kinh tế vĩ mô . Chúng ta phải thực hiện bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sự hoạt động an toàn, hiệu quả của các định chế tài chính , đây là một vấn đề rất quan trọng và chúng ta cần thức hiện cho có hiệu quả để tránh những ảnh hưởng từ các nhân tố kinh tế từ bên ngoài như gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xẩy ra trong các năm 2007 - 2009 và cuộc khủng hoảng nợ công ở một số nước . Những cuộc khủng hoảng này là hậu quả của sự phát triển không bền vững, gây mất ổn định toàn cầu và tác động đến tăng trưởng của hầu hết các quốc gia, kinh tế thế giới suy giảm, thất nghiệp gia tăng, xung đột xã hội lan rộng... Kinh nghiệm quốc tế cũng như của nước ta những năm qua cho thấy giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính, kiểm soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn vừa là tiền đề để tăng trưởng nhanh vừa là nội dung của tăng trưởng bền vững. 2. Nâng cao chất lượng sự tăng trưởng kinh tế . Bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng là yếu tố quyết định nhất để phát triển nhanh và bền vững. Có đạt được tốc độ tăng trưởng cao, đất nước mới phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước, mới tạo được nguồn lực để phát triển các lĩnh vực khác của sự phát triển kinh tế bền vững . Mặt khác, có nâng cao chất lượng tăng trưởng mới tăng được hiệu suất sử dụng vốn và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mới mở rộng được thị trường tiêu thụ trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trên cơ sở đó, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho đất nước, tăng khả năng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng cao và ổn định trong dài hạn. Nâng cao hiệu quả đầu tư công là một yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng tăng trưởng. Hoàn thiện cơ chế giám sát và tăng cường công tác giám sát đầu tư. Kiên quyết và có biện pháp mạnh mẽ chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư.Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế trên cả ba nội dung chính : (1) tái cấu trúc các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với các vùng kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ. Từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại;(2) tái cấu trúc các doanh nghiệp, xây dựng lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao; (3) điều chỉnh chiến lược thị trường, coi trọng hơn thị trường trong nước đi đôi với việc tiếp tục đa dạng hoá, mở rộng thị trường nước ngoài . Thực hiện tốt các nội dung trên đây, chẳng những nâng cao được chất lượng tăng trưởng, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, hạn chế được các tác động tiêu cực trước những biến động từ bên ngoài, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững mà còn tham gia có hiệu quả của xu thế phát triển trong nền kinh tế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. II. Nhóm giải pháp về mặt xã hội . 1.Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Cần phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thật vậy Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, yếu tố làm nên giá trị ổn định, lâu bền của một quốc gia, hình thành bản sắc riêng có của một dân tộc ,Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển. Với ý nghĩa như vậy , văn hoá không chỉ là kết quả của phát triển nhanh, bền vững mà còn là yếu tố tạo nên sự phát triển nhanh, bền vững . 2.Thực hiện tiến bộ , công bằng xã hội . Đây là nội dung rất quan trọng của phát triển bền vững. Sự bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo ở mức cao tạo nên xung đột xã hội ở không ít các quốc gia trên thế giới, làm suy giảm tăng trưởng. Vì vậy, Đảng ta chủ trương phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Chúng ta sẽ tập trung hơn cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để thực hiện giảm nghèo bền vững. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, đồng thời hạn chế phân hoá giàu nghèo, chủ yếu thông qua chính sách điều tiết thu nhập, phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân phối trong các doanh nghiệp, chính sách tiền lương, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 3.Phát triển giáo dục và đào tạo. Cần chú trọng phát triển đào tạo đại học và dạy nghề để nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu hợp lý nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân . 4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở. Thực hiện dân chủ là một thành tố của phát triển bền vững, vấn đề này xuất phát từ luận điểm rất quan trọng: con người vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của phát triển. Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. III. Nhóm giải pháp về vấn đề môi trường . Vấn đề phát triển kinh tế bền vững , đặt ra rằng tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường. Vì vậy, phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường; chủ động đối phó với hiểm họa nước biển dâng; sử dụng công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, phát triển kinh tế xanh là nội dung có tác động mạnh nhất đến phát triển bền vững, phải được thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như trong từng lĩnh vực, ở từng địa phương, đơn vị. Ngoài những giải pháp nêu trên , Vấn đề ổn định chính trị đảm bảo giữ vững và bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền lãnh thổ là điều thiết yếu làm tiền đề để thực hiện các giải pháp trên một các hiệu quả . Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện các giải pháp trên cần có sự phối hợp động bộ các ch1inh sách kinh tế khác trong một môi trường pháp lý thông thoáng trên cơ sở thực hiện công cuộc cải cách hành ch1inh của Nhà nước hiện nay .
PHẦN III
KẾT LUẬN
Phát triển kinh tế theo hướng bền vững không còn là một vấn đề mới lạ trong phát triển kinh tế của các quốc gia . Ở Việt Nam phát triển kinh tế theo hướng bền vững được tiến hành rất sớm , ngay từ đầu phát triển kinh tế theo hướng bền vững đã được thể hiện trong các chủ trương , nghị quyết của Đảng và được thông qua tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc . Tuy trong quá trình thực hiện bên cạnh những thành tựu đạt được đáng ghi nhận thì cũng còn một số hạn chế do nhiều nguyên nhân gây ra cần được khắc phục để thực hiện mang lại hiệu quả như mong muốn trong tương lai . Ngày nay , trước diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới phần nào đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta , thì vấn đề phát triển kinh tế theo hướng bền vững càng được quan tâm và tiến hành một cách thận trọng chặt chẻ , phù hợp với tình hình kinh tế trong nước , giảm thiểu tối đa những tác hại từ yếu tố bên ngoài nhằm đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế cao ổn định cùng với sự phát triển và nâng cao các vấn đề xã hội , đồng thời đảm bảo bảo vệ và cải thiện môi trường ./.